Sunday, 31 August 2014

Hướng dẫn lựa chọn AV Receiver cho Rạp Hát Tại Nhà

Hiện nay receiver đang là một trong những thiết bị gần như không thể thiếu trong phòng nghe nhìn của dân HD. Có nhiều lý do để sắm một chiếc reciever, có thể là bạn đang muốn xây dựng một rạp hát tại gia hay đơn giản chỉ là nâng cấp cái receiver . Dù sao đi nữa thì công việc cần làm sẽ là tìm hiểu và tham khảo những thông tin thực sự cần thiết để không biến mình thành một món hàng hời cho các nhà phân phối.
Đầu tiên, xin được thông báo 2 thông tin cơ bản, và giống như mọi thứ vật chất tồn tại trên cõi đời này, sẽ có cái tốt đẹp và cả cái xấu xa trong đó:
  • Tin tốt: hiện tại bạn sẽ có được những thiết bị được tích hợp rất nhiều công nghệ tiên tiến, đi kèm với các tính năng rất tiện lợi. Do đó chúng ta sẽ dễ dàng nhận được những sản phẩm thực sự đáng giá cho số tiền mà mình bỏ ra.
  • Tin xấu: hiện tại bạn sẽ có được những thiết bị được tích hợp rất nhiều công nghệ tiên tiến, đi kèm với các tính năng rất tiện lợi và tất cả chúng ta sẽ dễ dàng bị mờ mắt và nhầm lẫn.
Đến đây thì đã có nhiều người bắt đầu lo lắng. Tuy nhiên, có lẽ các bạn nên tạm hạ nhiệt để rồi chúng ta cùng làm sáng tỏ một số những chi tiết kỹ thuật, xem xét các tinh năng mới. Hy vọng sau khi nắm bắt những điều này, bạn sẽ vững tin hơn khi quyết định mua một chiếc receiver  trong một vài năm tới.
Stereo hay Surround?
Có hai loại receiver cơ bản, đó là Stereo và A/V (Audio-Video Receiver).
Một chiếc Stereo Receiver thường được dùng để phát nhạc ra 2 kênh loa cùng lúc và cũng có thể dùng cho nhiều phòng trong nhà. Hiện nay, Stereo Receiver ngoài tính năng AM/FM tuner truyền thống thì còn được trang bị thêm radio vệ tinh XM hoặc Sirius và HD radio tuner. Chúng thường được trang bị một đầu vào Phono, một số có thể hỗ trợ thêm iPod thông qua cổng kết nối hoặc dock. Thỉnh thoảng chúng ta cũng thấy đầu ra dành riêng cho loa siêu trầm, nhưng nói chung là rất hiếm gặp. Hầu hết Stereo Receiver đều không xử lý được video hoặc âm thanh digital, thay vào đó là analog stereo.
Khác với Stereo Receiver, A/V Receiver (Audio-Video Receiver hay AVR) có thể coi như là “trưởng thôn” của các rạp hát tại gia hiện nay. Chúng được phát triển dựa trên nền tảng của Stereo Receiver và được nâng cấp lên âm thanh vòm, xử lý âm thanh digital, video digital và chuyển mạch, hệ thống setup loa tự động và network.
Cần lưu ý rằng, ngày nay Stereo Receiver đã không còn phổ biến, chúng chỉ phù hợp để nghe nhạc stereo hoặc sử dụng trong các không gian nhỏ như phòng làm việc hay phòng ngủ. Mặc dù có thể dùng để nâng cao những trải nghiệm trên màn ảnh, nhưng bạn không nên lựa chọn một Stereo Receiver để kết nối TV với các thiết bị nguồn như DVD, Blu-Ray, DVR, game consoles…
Tiếp theo, chúng ta sẽ tiếp tục tập trung tìm hiểu về cách lựa chọn một AVR phù hợp, và các bạn cũng có thể áp dụng thông tin này cho cả Stereo Receiver.
Cái nhìn đầu tiên:
Nếu là một khách hàng, bạn chỉ nên tin vào đôi mắt và khả năng tư duy của mình. Ở thời điểm này, những chiếc AV Receiver đã tràn ngập trên thị trường và được trang bị hầu như đầy đủ mọi thứ. Do đó, chúng ta sẽ có rất nhiều sự lựa chọn và hãy thong thả loại bỏ những thiết bị không ưng ý ngay lập tức. Cố gắng gom những thứ đáng để quan tâm lại một chỗ, sắp xếp ngay ngắn, so sánh về thông số kỹ thuật và đặc biệt là chú ý vào những tính năng yêu thích của mình, đôi khi những tính năng nhỏ này lại có giá trị không gì có thể bù đắp được. Mặc dù, thông số kỹ thuật chỉ là cách khoe khoang đầy ý tứ của nhà sản xuất, nhưng không có nghĩa là nó không có giá trị tham khảo.
Thông số kỹ thuật: thực sự hữu ích hoặc dễ gây hiểu nhầm
Sự thất đáng buồn đó là hầu hết chất lượng sản phẩm không tương xứng với những thông số kỹ thuật mà nhà sản xuất đưa ra. Nhiều hãng sản xuất thường tìm cách “nấu những cuốn sách” để làm cho sản phẩm của họ trông hấp dẫn hơn, ngay cả khi chúng chỉ là những model sơ cấp. Trong khi đó, các thương hiệu cao cấp thường không có xu hướng “trang điểm” theo kiểu này mà chỉ PR ở một mức độ vừa phải nào đó mà thôi. Nếu bạn thường xuyên theo dõi thì có thể nhận thấy rằng, hầu như tất cả các sản phẩm trên thị trường đều trang bị hơn 100W cho mỗi kênh, điều gì đã xảy ra thế này?
Công suất:
Đây là khu vực được coi là trung tâm của mọi sự lừa bịp. Các nhà sản xuất đủ “thông minh” để nhận ra rằng, các khách hàng của họ thích ngắm nhìn những con số hoành tráng, và hầu hết đều nghĩ rằng công suất càng cao thì âm thanh càng tốt. Do đó nhiều hãng đã tìm ra được phương pháp để tăng công suất lên cao ngút nhằm làm lóa mắt người tiêu dùng.
Trong bầu không khí cạnh tranh khốc liệt và ngột ngạt của ngành công nghiệp điện tử, những mánh khóe của các nhà sản xuất là không thể không tránh khỏi. Tuy nhiên, rất may là người tiêu dùng chúng ta đã có Federal Trade Commission hay còn gọi là Ủy ban Thương mại Liên bang Hoa Kỳ – một trong những cơ quan có quyền lực rất cao trong hoạt động thương mại. 
Trước những thông tin gây khó hiểu về công suất, FTC đã ra phán quyết nhằm bảo vệ người tiêu dùng và ngăn chặn các biểu hiện cạnh tranh không lành mạnh. Theo đó các hãng sản xuất phải đưa ra các điều kiện để công bố phép đo công suất, bao gồm:
  • Công suất phải là công suất thực RMS (Root Mean Squared).
  • Băng thông (dải tần) sử dụng trong phép đo phải được ghi.
  • Trở kháng phải được ghi.
  • Số kênh tải phải được ghi
  • Độ méo THD (Total Harmonic Distortion) phải được ghi.
RMS: 
Có hai cách để nhà sản xuất thể hiện thông số công suất, đó là công suất cực đại và công suất thực RMS. Công suất cực đại là khả năng đáp ứng tức thời của receiver, chỉ mang tính chất ảo bởi nó không duy trì được lâu. Trong khi đó phép đo công suất RMS được thực hiện dựa trên các tính toán khoa học và chính xác. Do đó khi muốn mua một chiếc receiver, việc đầu tiên là bạn nên hỏi nhân viên xem công suất thực của thiết bị là bao nhiêu.
Băng thông (Bandwidth):
Băng thông ở đây đề cập đến dải tần mà nhà sản xuất sử dụng để đo công suất mà họ đã công bố. Một cách các nhà sản xuất có thể tăng công suất đó là cho chạy ở một tần số duy nhất trong một khoảng thời gian ngắn. Nếu bạn nhìn thấy 100 x 5 (@ 1kHz) thì đó chắc chắn là một con số đáng nghi, được được đo trong khi thiết bị đang chạy ở mức “thong thả” và cao hơn nhiều so với trong thực tế khi mà bạn sử dụng. Một thiết bị được đánh giá chính xác khi nó hoạt động với băng thông đầy đủ tức là 100 x 5 (@ 20Hz-20kHz) – đây là phạm vi tai người bình thường có thể nghe được.
Trở kháng:
Trở kháng là thước đo của điện trở. Theo định luật Ohm, khi hoạt động với một tải 4 ohm, receiver sẽ tạo ra công suất gấp đôi so với tải 8 omh. Các nhà sản xuất thường lợi dụng điều này để có một con số ấn tượng cho sản phẩm của họ. Tuy nhiên, nên nhớ rằng hầu hết (nhưng chắc chắn không phải là tất cả) các bộ loa trong rạp hát tại gia hiện nay đều có trở kháng nằm trong khoảng từ 6 đến 8 ohm. Nếu thấy một chiếc receiver có số đo công suất ở mức trở kháng 4 ohm thì bạn nên nghi ngờ và chuyển qua một thiết bị khác đáng tin cậy hơn (trừ khi đó là một sản phẩm cao cấp).
Số kênh hoạt động:
Trước đây, khi mà những chiếc receiver chỉ có hai kênh thì thuật ngữ “all channels driven” có nghĩa là tất cả đang được thử nghiệm cùng một lúc. Tuy nhiên, ở thời điểm này các sản phẩm đã được nâng cấp lên 5, 7 và thậm chí là 10 kênh. Cảm giác của người dùng về “all channels driven” vẫn nguyên vẹn: tất cả các kênh đang được thử nghiệm cùng một lúc. Tuy nhiên trớ trêu thay là điều này không phải luôn luôn đúng.
Các nhà sản xuất có thể ăn gian trong quá trình thử nghiệm để tạo ra một công suất suất có lợi cho họ. Vi dụ,một chiếc receiver có 7 kênh nhưng thực chất họ lại chỉ sử dụng 2 kênh để thử nghiệm và điều gì sẽ xảy ra chắc chắn bạn cũng đoán được rồi đó: công suất rất cao.
Điều quan trọng ở đây là bạn sẽ phải tìm hiểu một cách chính xác xem có bao nhiêu kênh đã được sử dụng để đo công suất, thường thì chúng là những hàng chữ khá nhỏ. (!)
Độ méo THD (Total Harmonic Distortion)
Số liệu về công suất chỉ thể hiện sức mạnh của receiver và toàn bộ câu chuyên thơ mộng nhưng đầy dối gian của nó cũng không hề liên quan đến chất lượng âm thanh. Tuy nhiên, độ méo THD thì khác, nó thể hiện khả năng “trung thành” với tín hiệu gốc của thiết bị. 
Thường thì độ biến dạng tăng sẽ kéo theo công suất của receiver tăng lên và các nhà sản xuất cũng sử dụng phương pháp này để có lợi cho họ. Vì vậy trong thực tế một số hãng đã tặng cho thiết bị của mình một độ méo lên tới 10%, khiến công suất cao ngất ngưởng và tất nhiên khi vặn volume lên, âm thanh cũng sẽ khiến bạn ngất trên cây quất vì quá.. khủng khiếp.
Một công suất cao đi kèm với độ biến dạng thấp là một ước mơ lớn đối với tất cả mọi người (cả nhà sản xuất lẫn người tiêu dùng). Thường thì THD nhỏ hơn 0,1% là có thể chấp nhận được, 0,08% hoặc thấp hơn là tuyệt vời và nếu thấy cao hơn 0,1% thì bạn có thể nghi ngờ khả năng thổi phồng công suất rồi đó.
Để tổng quát hóa về vấn đề công suất, xin đưa ra một ví dụ nho nhỏ như sau:
  • Receiver 1: 75W per channel, 5Hz – 80kHz, @ 8 Ohms, 5 channels driven with no more than .08% THD.
  • Receiver 2: 100W per channel, 80Hz – 20kHz @ 6 Ohms, 5 channels driven with no more than 1.0% THD.
Giả định rằng cả hai chiếc receiver trên cùng có 5 kênh. Câu hỏi đặt ra đó là “chiếc receiver nào sẽ đáng để lựa chọn hơn?”. Một vài người sẽ nhanh chóng ôm lấy cái thứ 2 mà chạy về nhà, quên luôn hàng khuyến mãi, còn những người điềm đạm hơn sẽ ở lại và chọn cái thứ 1 và họ đã đúng. 
DAC
DAC là từ viết tắt của digital-to-analog: bộ chuyển đổi tín hiệu digital sang analog. Giống như tên gọi, các tín hiệu digital từ đĩa Blu-ray, DVD, Game Console, DVR hoặc những thiết bị tương tự khi đi qua nó sẽ được chuyển đổi thành tín hiệu analog. Một DAC tốt sẽ cho ra âm thanh có chất lượng tốt hơn.
Làm thế nào để biết được receiver sử dụng DAC chất lượng hay không chất lượng?
Hầu hết các nhà sản xuất sẽ không bận tâm đến việc tiết lộ loại DAC được sử dụng trong sản phẩm, trừ khi chất lượng của nó khiến họ đủ tự tin. Điều này có nghĩa là nếu họ đang “gào thét” những thương hiệu 
như Burr Brown, SHARC… vào tai bạn thì rất có thể bạn sẽ nhận đươc một DAC thực sự tốt.
Tuy nhiên, trong thực tế thì nhà sản xuất không nhắc tới DAC không có nghĩa là thành phần này trên sản phẩm của họ có chất lượng kém. Bạn có thể sử dụng một dấu hiệu khác đó là giá cả giữa các sản phẩm tương tự.
Chế độ tự động cân chỉnh
Các model tầm trung và cao cấp thường đi kèm với công cụ tự động setup cho loa và cân chỉnh hệ thộng. Tuy nhiên, như chúng ta đã biết, công cụ này hoạt động không mấy hiệu quả và chỉ hữu ích với những người có hiểu biết ít về công nghệ. Nếu muốn hướng đến chất lượng thì nên tự tay làm lấy, nó sẽ tốt hơn cho cả hệ thống lẫn kiến thức của bạn.
Kết nối: Tiện lợi và không sớm bị lỗi thời
HDMI:
Là một giải pháp kết nối A/V phổ biến nhất hiện nay. Nó có thể chuyển tải âm thanh lẫn hình ảnh có độ nét cao giữa các thiết bị mà không làm suy yếu tín hiệu. Tất nhiên là HDMI phát triển đã khá lâu và có nhiều phiên bản xuất hiện, trong đó HDMI 1.4 là chuẩn mới nhất, có thể hỗ trợ video, Audio Return Channel (ARC) và Ethernet. Một lời khuyên chân thành đó là nên chọn một receiver có nhiều cổng HDMI hơn nhu cầu hiện tại, bởi nó sẽ rất hữu ích trong tương lai khi mà bạn muốn phát triển thiết bị nghe nhìn của mình.
Video Conversion và Video Upscaling: 
Từng được coi là các tính năng chỉ có trên các receiver cao cấp, tuy nhiên hiện nay chúng đã trở nên phổ biến hơn, thậm chí còn xuất hiện trên một số model phổ thông.
Video conversion (hay transcoding):
Tính năng này cho phép bạn kết nối tín hiệu analog composite hoặc component video và chuyển đổi chúng sang tín hiệu digital để có thể truyền tải thông qua một cáp HDMI duy nhất. Lợi thế ở đây đó là bạn có thể kết nối tất cả mọi thứ vào receiver và gửi chúng lên TV thông qua một sợi cáp.
Video Upscaling: 
Upscaling là tính năng giúp chuyển các tín hiệu video có độ phân giải thấp lên độ phân giải cao hơn để xem trên HDTV của bạn. Các tín hiệu sau khi được Upscaling không phải là độ nét cao thực sự, nhưng hình ảnh nhận được trên chiếc TV của bạn trông sẽ đẹp hơn một chút. Tất nhiên, chất lượng của Upscaling có liên quan trực tiếp đến chất lượng chip xử lý (giống như DAC). Nếu tính năng này thực sự quan trọng, thì bạn nên kiểm tra các bài đánh giá, xem những người dùng trước nói gì về chiếc receiver mà bạn đang muốn sắm.
Ngoài receiver, rất nhiều HDTV và các thiết bị phát khác hiện nay đã được tích hợp sẵn tính năng này. Do đó nếu đang sở hữu một chiếc TV hay đầu đĩa như vậy, bạn cũng không nên đề cao Upscaling quá.
HDMI Standby Pass-Through:
Đây là một tính năng rất hữu ích thường được nhiều người bỏ qua. Tính năng Standby Pass-Through cho phép truyền tải bất kỳ dữ liệu nào lên chiếc TV của bạn thông qua cổng HDMI ngay cả khi receiver đã tắt. Bằng cách này, bạn vẫn có thể xem “Ai là triệu phú” mà không nhất thiết phải khởi động receiver và hệ thống loa khủng của mình.
Audio Return Channel:
Trong hệ thống nghe nhìn, tính năng ARC (Audio Return Channel) của receiver sẽ giúp nó có thể “ăn” được các dữ liệu từ TV. Thỉnh thoảng ARC cúng phát huy tác dụng, như khi bạn xem các chương trình cục bộ hoặc sử dụng các ứng dụng Internet trên HDTV, tính năng này sẽ cho phép các tín hiệu từ TV qua receiver và đi thẳng vào hệ thống âm thanh của bạn.
Ethernet:
Cổng Ethernet cho phép receiver của bạn có thể cập nhật firmware, truy cập Internet Radio hay truy cập các nội dung trong mạng gia đình.
WiFi:
Một số receiver hiện nay được tích hợp WiFi Adapter để truy cập internet và các nội dung đa phương tiện, nhưng hầu hết chúng vẫn tồn tại ở dạng.. cao cấp. Tuy nhiên rất may đó là các bộ Adapter gắn ngoài có thể thay thế nhiệm vụ này một cách hoàn hảo thông qua cổng ethernet hoặc USB.
USB:
Ngày càng có thêm nhiều model receiver được trang bị các cổng USB bởi sự tiện lợi mà nó mang lại. Một số chỉ được thiết kế đơn giản để duyệt ảnh, chơi nhạc hoặc xem video từ ổ đĩa gắn ngoài. Một số khác lại được thiết kế tương thích với iPod và iPhone.
Nội dung đa phương tiện:
DLNA:
DLNA là từ viết tắt của Digital Living Network Alliance và được tạo ra nhằm để việc chia sẻ hình ảnh, âm nhạc và video giữa các thiết bị kỹ thuật số trở nên dễ dàng hơn. Hiện nay, rất nhiều sản phẩm trên thị trường đã được cấp chứng nhận DLNA như TV, Blu-ray player và tất nhiên là cả receiver nữa. Tính năng này sẽ giúp bạn có thể truy cập và chia sẻ dữ liệu số trên bất kỳ máy tính nội mạng nào (Home Network), tất nhiên là phải bật chế độ Sharing. Theo kinh nghiệm thì khi thư viện của bạn lớn, các thiết bị DLNA có xu hướng hoạt động khá chậm và giao diện tích hợp của receiver sẽ có rất nhiều việc để làm nếu muốn truy cập network media.
Dù sao đi nữa thì DLNA vẫn là một ý tưởng tuyệt vời, mặc dù nó vẫn chưa thực sự hoàn hảo tại thời điểm này.
Apple Airplay:
Được trang bị tính năng này, receiver của bạn có thể xử lý video, âm nhạc và hình ảnh từ bất kỳ thiết bị nào hỗ trợ Airplay hoặc từ iTunes. Âm thanh truyền tải qua chuẩn này có chất lượng khá tốt và dễ dàng sử dụng. Aiplay đang được sử dụng ngày càng nhiều, đặc biệt là các model cao cấp và model mới hoặc xuất hiện gần đây như là một bản nâng cấp của năm 2010.
Internet Radio: 
Trên mạng internet hiện nay có rất nhiều kênh radio có sẵn và hầu hết các receiver hỗ trợ network đều cho phép bạn truy cập vào đó. Tuy nhiên, phần lớn chất lượng âm thanh của Internet Radio khá tệ hại. Điểm nổi bật ở đây là thư viện cách kênh rất lớn và đa dạng, thậm chí thỉnh thoảng bạn cũng sẽ tìm thấy được một vài kênh có bitrate khá cao.
Mutil-room:
Multi-room audio/video:
Rất nhiều receiver hỗ trợ khuếch đại tín hiệu âm thanh và thậm chí là hình ảnh cho các phòng khác trong nhà, ngoài phòng nghe chính. Điều này sẽ rất tuyệt nếu như bạn đang có ý định phục vụ âm nhạc miễn phí cho “gấu yêu”ở ngoài trời, phòng rec, phòng ngủ hay thậm chí là phòng ăn. 
Hầu hết các receiver đều cho phép thiết lập cho một căn phòng chính và các thiết lập phụ cho các căn phòng khác. Tuy nhiên, không phải khi nào tính năng này cũng hoạt động tốt cho dù các thông số trên receiver đều nói rằng nó hỗ trợ cho phòng nghe thứ 2 hoặc thứ 3.
Hỗ trợ Surround: 
Nhiều receiver được tích hợp sẵn một hoặc nhiều kênh surround vào trong tín hiệu âm thanh khuếch đại truyền đi ở phòng khác. Điều này có nghĩa là bạn không cần trang bị một cặp loa surround cho phòng phụ.
Remote: 
Ngoài các tính năng liên quan đến âm thanh, bạn nên xem xét khả năng hỗ trợ remote ở các khu vực khác. Nếu sợ ma, Remote phụ sẽ giúp bạn kiểm soát volume và nguồn phát một cách dễ dàng, để không bị mò mẫm trong đêm tối chỉ để vặn nhỏ nhạc lại.
Nghe thử:
Sau khi được trang bị một phần nào kiến thức, bạn sẽ bắt tay vào việc lựa chọn một chiếc receiver trong danh sách mà mình đã tuyển. Ở giai đoạn này, “đôi tai” sẽ là yếu tố sẽ quyết định thành công hay thất bại, xin đưa ra một vài lời khuyên như sau:
Nghe thử tại điểm bán hàng:
“Check hàng” ngay tại nhà bạn chắc chắn sẽ đem lại kết quả chính xác nhất, tuy nhiên trước đó thì bạn sẽ phải check ngay tại cửa hàng. Điều này cũng tốt thôi, nhưng hãy nhớ rằng các phòng trưng bày được thiết kế và xử lý âm học rất tốt, vị trí đặt loa, vị trí ghế ngồi chính xác, các tấm tiêu âm và các phụ kiện điện tử chuyên dụng. Nếu kinh tế không thuộc loại khá giả thì phòng nghe nhìn của bạn khó mà đạt tới “tầm” như thế. Do đó chúng ta nên cố gắng tìm ra điểm khác nhau rất nhỏ về chất lượng âm thanh mà mình nghe được giữa các receiver. 
Chọn những chiếc loa tương tự như ở nhà sẽ giúp bạn hình dung tốt hơn về khả năng phối ghép với hệ thống của bạn. Nếu sở hữu bookshelf với soft-dome tweetter, hãy tìm những chiếc loa tương tự; còn nếu đang dùng một cặp tower với tweeter dome kim loại thì cũng nên tìm những chiếc như thế để thử…
Việc “check hàng” cũng nên tiến hành ở cả chế độ nghe nhạc lẫn xem phim. Bởi có rất nhiều receiver xem phim rất tốt nhưng nghe nhạc lại dở và ngược lại.
Một điểm chú ý nữa đó là bạn nên rủ thêm một vài người bạn nữa đi cùng mình, để nghe và đánh giá một cách khách quan hơn.

Loa và hoạt động của các loại Loa

Nhìn bộ dàn âm thanh, dễ nhận thấy loa là thiết bị nổi bật nhưng không phải ai cũng biết rằng hoạt động của nó có ảnh hưởng quan trọng tới âm thanh của toàn bộ hệ thống. Nhờ có bộ loa, tín hiệu điện được chuyển hóa thành sóng âm khiến tai có thể nghe được.
Tất cả các loại loa đều hoạt động dựa trên nguyên tắc căn bản là làm không khí chuyển động theo sự điều khiển của tín hiệu điện để tạo nên các sóng âm lan truyền trong không khí, tác động tới tai người nghe và giúp chúng ta thưởng thức được âm nhạc…
Có nhiều cách thức vận dụng nguyên tắc này, nhưng chúng tôi phân loại thành năm nhóm chính, tương ứng với năm loại loa khác nhau, đó là loa điện động, loa mành tĩnh điện, loa mành nam châm, loa kèn và một loa khá mới mẽ, có cấu tạo đặc biệt, đó là loa plasma
LOA ĐIỆN ĐỘNG
Loa điện động là loại phổ biến nhất trong tất cả các loại loa. Về cấu tạo, loa điện động bao gồm các bộ phận: xương loa, nam châm, cuộn dây động, màng loa, nhện, và gân loa. Màng loa được thiết kế theo hình nón hoặc vòm, tạo nên một bề mặt chuyển động và sinh ra các luộng khí, từ đó, hình thành nên sóng âm. Bộ phận nâng đỡ và gắn kết màng loa cùng tất cả các chi tiết khác của loa là xương loa – thường làm từ sắt dập hoặc đúc bằng hợp kim nhôm hay gang.
Xung quanh màng loa là gân loa, có chức năng kết nối màng loa với xương loa, cho phép màng loa có thể chuyển động lên xuống. Gân loa có thể ví như là trục của bánh xe, vừa gắn bánh xe vào thân xe, vừa cho phép bánh quay tròn. Gân loa còn giúp màng loa quay trở lại vị trí đứng yên sau khi chuyển động.
Một “đồng nghiệp thân cận” của gân loa, cùng làm công việc giữ cho màng loa ổn định vị trí sau khi chuyển động là con nhện. Nó được đặt sát đáy của màng loa hình nón. Phần lớn con nhện đều được uốn lượn sóng như hình mài lợp.
Cuộn dây động được quấn bằng đồng quanh một lõi hình trụ. Tín hiệu xoay chiều từ ampli được đưa vào cuộn dây rồi đi qua các vòng dây, và sinh ra từ trường. Từ trường này tương tác với từ trường của nam châm loa, tạo ra các chuyển động lên xuống. Mức độ dao động của cuộn dây tỷ lệ với dòng điện chạy trong cuộn dây đó. Cuộn dây động có một đầu gắn chặt với nón loa, vì thế các dao động từ cuộn dây được truyền tới nón loa và làm rung động cả nón loa, từ đó phát ra âm thanh. Loa điện động dù là loa trầm, loa trung hay loa treble… đều hoạt điện động dựa trên nguyên tắc này để tạo ra âm thanh. Tất nhiên, tùy từng dải tần mà các loa có nhiều kiểu cấu tạo và kích cỡ khác nhau. Để có một thùng loa hoàn chỉnh, người ta có thể chỉ cần sử dụng chiếc loa điện động duy nhất (chẳng hạn như trường hợp loa toàn dải – full range). Tuy nhiên, để có được phổ âm thanh thật đầy đủ và tránh hiện tượng các loa bị méo tiếng do hoạt động ở những dải tần không thích hợp, người ta cần phải phối hợp nhiều loa điện động khác nhau trong cùng một thùng loa, bởi vì không có chiếc loa con nào có thể một mình tải được tất cả các tần số này. Và công việc phân chia các dải tần cho từng loa con lại thuộc về một bộ phận khác trong thùng loa, đó là bộ phân tần.
  • BỘ PHÂN TẦN:
Bộ phần tần là mạch điện gồm các linh kiện như tụ, trở và cuộn dây… Các tần số cao khoảng từ 3.000Hz trở lên sẽ được bộ phận này chuyển đến loa treble, từ 3.000Hz xuống 200Hz sẽ tới loa trung, dưới 200Hz tới loa trầm. Nói như thế, không có nghĩa là bộ phân tần có thể tách tuyệt đối âm thanh ra 3 dải mà giữa các dải âm đều có sự giao thoa hay bao trùm lên nhau ở một khoảng cách tần số nào đó. Ví dụ, ta lấy điểm phân tần là tần số 3.000Hz. Trên điểm này, loa treble xử lý các tần số cao, dưới điểm này là nơi loa trung và trầm tải tần số trung và trầm. Thực ra, loa treble sẽ tái hiện một số tín hiệu dưới điểm 3.000Hz và loa trung sẽ tái hiện một số tính hiệu trên điểm phân tần. Tuy nhiên, âm thanh phát ra từ loa treble dưới điểm phân tần sẽ giảm theo một độ dốc nhất định. Độ nghiêng càng lớn thì loa treble càng sả sinh ra ít tần số dưới điểm 3.000Hz và ngược lại. Cách thiết kế bộ phân tần phụ thuộc vào loại loa con sử dụng. Chất lượng của phân tần ảnh hưởng nhiều đến chất lượng âm thanh của cả thùng loa.
  • PHÂN LOẠI LOA CON:
Có ba loại loa con chính: treble, trung, bass. Loa treble tái hiện tần số cao, đường kính từ 1-2inch. Nhiều loa treble được thiết kế theo dạng dome (vòm) từ các chất liệu như titani-um, nhôm, lựa, nhựa… và chúng tôi đòi hỏi phải được thiết kế sao cho đủ nhẹ để có thể chuyển điện động rất nhanh hàng mấy ngàn dao động mỗi giây. Loa trung xử lý tần số trung, thường từ 2.000 hoặc 3.000Hz xuống tới 200 hoặc 500Hz. Phần lớn loa trung đều có hình nón và dùng chất liệu: nhựa, Kevlar, giấy, polypropylen để làm màng. Kích cỡ dao điện động từ 4 – 8inch. Loa trầm (bass) giống như loa trung nhưng có kích cỡ lớn hơn, thường được thiết kế theo hình nón và dùng chất liệu màng: nhựa, polypropylene hoặc giấy. Kích cỡ: 6 – 8inch. Loa siêu trầm là loa đặc biệt tải tần số thấp nhất (khoảng 80Hz trở xuống) và có đường kính từ 10inch trở lên.
  • NHƯỢC ĐIỂM CỦA LOA ĐIỆN ĐỘNG:
Loa điện động hoạt động rất linh hoạt, sử dụng tiện lợi, đặc biệt ở tần số thấp nhưng phiền toái ở chỗ nó cần phải có bộ phân tần, và thùng phải lắp nhiều loa con. Sự cồng kềnh này không tránh khỏi hiện tượng suy hao tín hiệu. Ngoài ra, âm thanh ở gần điểm phân tần thường bị suy giảm khiến cho âm màn âm thanh tổng thể không mượt mà như khi chúng được tái hiện mà không có độ phân tần. Do những nhược điểm trên, để phátra âm thanh tốt, loa điện động cần tới một lượng điện năng khá lớn, một phần để chuyển động duộn dây, phần lớn khác chỉ để làm nóng cuộn dây. Chúng cũng cần một nam châm to và một cấu trúc thùng nâng đỡ thật khỏe, tương xứng với trọng lượng của các loa con. Tuy nhiên, vì dễ chế tạo nên loại loa này rất phổ biến trong mọi thiết bị hi-fi.
LOA MÀNH TĨNH ĐIỆN
Với ưu điểm màng loa nhẹ và không cần dùng bộ phân tần, loa tĩnh điện đã ra đời và khắc phục những tồn tại trên của loa điện động. Thay vì sử dụng loa con, các thiết kế loa tĩnh điện chỉ dùng một chiếc mành treo trong từ trường tích điện. Chiếc mành này vừa rộng, vừa cao (khoảng 1m2), rất phẳng, mịn và cực kỳ nhẹ nên rất nhạy cảm với những dao điện động của tần số âm thanh. Chiếc mành này thay thế các loa con trong loa điện động, do vậy, loa tĩnh điện không cần tiến bộ phân tần và tránh được các nhược điểm đi kèm bộ phân tần.
Tuy nhiên, loa tĩnh điện cũng có mặt trái là chiếc mành quá mỏng và rộng bản của nó không thể di chuyển được những khoảng cách lớn để có thể tái hiện các tần số thấp như loa điện động. Do vậy, nhiều loa mành phải dùng đến loa trầm điện động và một bộ phân tần.
Các loa tĩnh điện cũng không thể tái hiện âm thanh sôi động, biến hóa như loa điện động như nếu để thể hiện những nét tinh tế của âm nhạc, đặc biệt ở tần số trung và cao lại là sở trường của loại loa này.
Một khó khăn khác mà loa tĩng điện gặp phải, đó là mặt thiết kế. Chúng hoạt động được nhờ có một tấm mành mỏng đặt giữa hai tấm kim loại. Một điện áp một chiều rất cao (hàng ngàn vôn) được đưa vào các tấm kim loại, hình thành nên một điện trường giữa không gian hai tấm đó. Trong khi đó, tấm mành nhận dòng điện xoay chiều từ ampli và liên tục thay đổi dấu điện cực. Sự thay đổi này khiến cho mành bị đẩy hoặc kéo khỏi các tấm kim loại và nó sinh ra sự dịch chuyển không khí, tạo âm thanh. Vấn đề là để có điện áp cao, loa phải kết nối với ổ điện. Điều này có thể gây phiền hà cho những thính giả sống trong các căn nhà không có sẵn ổ điện ở khu vực gần loa.
Các loa tình điện chủ yếu dùng nghe stereo, chúng thường ít xuất hiện trong các hệ thống rạp hát tại gia. Âm thanh rất trong trẻo và chi tiết ở dải tiếng trung và treble. Tuy nhiên, chúng lại hơi hạn chế về vị trí đặt loa. Ngoài ra, để có được tiếng bass thật chắc và khỏe, hầu hết loa tĩng điện được phối hợp với loa siêu trầm hoặc lắp một chiếc loa trầm ở bên trong. Hãng làm loa tĩnh điện có tiếng là Martin Logan ở Mỹ.
LOA MÀNH NAM CHÂM
Tương tự loa tĩnh điện, loa mành nam châm không hoạt động theo kiểu “điện động”  như loa điện động nhưng nó có điểm khác biệt là không cần phải cắm vào ổ điện trên tường.
Nếu loa tĩnh điện vận hành được nhờ có một chiếc mành nhẹ treo giữa hai tấm kim loại tích điện thì loa mành nam châm thay thế tấm mành mỏng, và rộng này bằng một dải ruy-băng kim loại mỏng, treo giữa hai nam châm. Loa này hoạt điện động khi có một dòng điện chay qua ruy-băng kim loại này. Khi đó, ruy-băng sẽ bị các nam châm đẩy và hút. Sự chuyển động này sinh ra sóng âm trong không khí bao quanh ruy-băng.
Tấm ruy-băng mỏng nhẹ giúp loa mành nam châm phản ứng nhanh nhạy với tín hiệu tiếng và trình diễn âm thanh một cách trong trẻo nên tái hiện các tần số cao rất hợp. Loa mành nam châm có dải ruy băng dài khoảng vài inch, thường đóng vai trò làm loa treble và nó kết hợp rất tuyệt với loa trung/trầm điện động. Giống như loa tĩng điện, loa mành nam châm thường đi liền các loa trầm điện động Thường giữa vị trí loa dành cho âm nhạc hai kênh, tất nhiên loại loa này cũng có mặt trong các hệ thống rạp hát gia đình đa kênh. Có thể kể đến Apogee, Magnepan… là những hãng làm loa mành nam châm có tiếng.

Treble plasma Corona được ứng dụng cho của Lansche Audio (Germany)

LOA PLASMA
Đây là loại loa hết sức đặc biệt. Nó không cần thùng, không cần màng loa mà vẫn phát ra âm thanh rất trong trẻo, chính xác, độ méo cực thấp. Loa này  thường đóng vai trò của loa treble. Nguyên lý loa plasma rất đơn giản, nó có một bộ phóng điện gắn với một biến thế cao áp ở đầu ra của một ampli công suất. Ampli này điều khiển biến thế có điện áp ra lên tới hàng ngàn vôn theo tín hiệu âm thanh. Kích cỡ của ngọn lửa phát ra từ que phóng điện đó cũng thay đổi theo, do vậy, áp suất không khí xung quanh ngọn lửa cũng biến đổi. Bạn sẽ được nghe những âm thanh phát ra trực tiếp trong không khí mà không hề thấy có tấm mành loa nào rung động. Tiếng tuy hơi nhỏ nhưng bù lại rất trong trẻo, âm thanh lan tỏa đều trong phòng nhạc.

Hệ thống âm thanh cao cấp nhất tại Việt Nam 2014

Xuất hiện tại Triển lãm Thiết bị Nghe nhìn Hà Nội 2013, hệ thống audio Avalon – Goldmund đã thu hút sự quan tâm rất lớn khi quy tụ cặp loa đầu bảng Tesseract, pre-ampli tham chiếu Mimesis 22H cùng power-ampli Telos. Hệ thống này đã được một dân chơi âm thanh tại Thái Nguyên “nhắm tới” để thỏa mãn đam mê nghe nhạc của mình.
 
Được ví như “viên kim cương đen huyền bí”, chủ nhân của dàn âm thanh cho biết, sở dĩ anh chọn loa Tesseract bởi ngoài chất lượng âm thanh tuyệt vời, loa còn đạt yếu tốt thẩm mỹ mà theo anh hiếm sản phẩm nào có được. “Với những bản nhạc giao hưởng, Tesseract có khả năng trình diễn xuất sắc giúp những người bận rộn như tôi có thể thưởng thức âm nhạc cao cấp ngay tại nhà”, anh chia sẻ.


Có giá tham khảo 330.000 USD (khoảng 7 tỷ đồng) nhưng do số lượng hạn chế đồng thời đây cũng là sản phẩm đầu tiên trên thế giới nên có rất nhiều bên muốn được sở hữu đôi loa Tesseract. Việt Trung Audio, đơn vị phân phối cho hay sau khi biết đôi loa Tesseract đầu tiên trên thế giới hoàn thành vào tháng 10/2013 và đang trong quá trình chạy rà, họ đã phải ra nước ngoài để làm việc trực tiếp với các đối tác.
“Kéo” cùng loa khủng là hệ thống khuếch đại của Goldmund – thương hiệu âm thanh trứ danh đến từ Thụy Sỹ. Bộ pre-ampli Mimesis 22H nổi tiếng với khả năng tái tạo âm tinh tế với độ nhiễu cực thấp nhờ sử dụng nguồn rời và những tụ điện tốt nhất thế giới. Mức giá của Mimesis 22H khoảng 2,5 tỷ đồng.
Hệ thống âm thanh của người chơi tại Thái Nguyên còn vượt cả bộ tham chiếu trong AV Show 2013 khi sử dụng power-ampli đình đám Telos 3500 có giá khoảng 9 tỷ đồng thay cho Telos 1000. Không đồ sộ như loa của Avalon, Telos 3500 nhỏ gọn nhưng có khối lượng lên đến 180 kg mỗi khối với nhiều chi tiết bằng vàng mang đến khả năng chống rung nội tại ấn tượng, chưa kể đến các công nghệ độc quyền của Goldmund.
Chia sẻ về lý do chọn các ampli của Goldmund, doanh nhân Thái Nguyên cho biết, anh yêu thích những sản phẩm Thụy Sỹ với độ chính xác cao và ampli này còn “đặc biệt thích hợp với Avalon Acoustics về chất giọng”.
Nguồn âm sử dụng hệ thống cơ Kalista Reference với thiết kế ba chân ấn tượng đồng thời giúp triệt rung hiệu quả. Ngoài ra, hệ thống còn bao gồm bộ chuyển đổi tín hiệu C2A Signature DAC với hai bộ giải mã 24-bit/192 kHz là cặp đôi xứng tầm với Kalista Reference. Bộ thiết bị này có giá khoảng 2,5 tỷ đồng.
 
Với một hệ thống âm thanh tầm cỡ, chỉ tính riêng việc trang bị nguồn nuôi và dây dẫn cũng rất tốn kém, Việt Trung Audio cho biết. Bộ dàn tại Thái Nguyên sử dụng dây dẫn dòng NBS cho khả năng truyền với sai số cực thấp cùng tốc độ cực nhanh đảm bảo tính trung thực tối đa. Bộ lọc nguồn IsoTek Super Titan cũng là trang bị cầu kỳ của người chơi.
 
“Quá trình vận chuyển thiết bị gặp rất nhiều khó khăn và tốn kém”, Giám đốc Việt Trung Audio chia sẻ. Bộ dàn này có khối lượng cả tấn, kích thước đồ sộ nhưng quãng đường di chuyển gần 100 km với mặt đường không mấy thuận lợi nên cần dùng xe nâng chuyên dụng cùng hệ thống giảm xóc đặc biệt. Chưa hết, việc chọn vị trí lắp đặt cần đo đạc kỹ lưỡng nhằm tối ưu hóa trải nghiệm âm thanh, quá trình chạy rà cũng kéo dài cả tháng trời.
Chia sẻ về đam mê âm thanh, chủ nhân của hệ thống này cho biết, anh bắt đầu tìm hiểu về âm thanh thông qua các hệ thống loa trên xe hơi. Sau những lần đổi xe, anh cảm nhận rõ sự khác biệt về âm thanh mà mỗi hãng xe hơi trang bị rồi từ đó tình yêu này “ngấm” vào anh lúc nào không hay. Nhận mình là người cầu kỳ và kỹ tính, doanh nhân Thái Nguyên cho biết, trước khi sở hữu thiết bị nào anh cũng tìm hiểu rất kỹ và nguyên tắc “bất di bất dịch” là phải nghe thử bởi anh quan niệm, “mình là người kinh doanh, đam mê thì đam mê thật, nhưng mình phải cảm thụ được cái hay, thấy nó đáng với những gì mình bỏ ra”.
Ngoài dàn âm thanh kể trên, doanh nhân Thái Nguyên còn trang bị riêng hệ thống xem phim với công nghệ âm thanh surround, loa Revel riêng biệt, máy chiếu 4K cùng rất nhiều thiết bị cao cấp khác. “Vượt cả bộ tham chiếu đình đám trong AV Show 2013, hệ thống của dân chơi âm thanh Thái Nguyên được đánh giá thuộc hàng cao cấp nhất tại Việt Nam”, ông Nguyễn Thanh Tùng, một dân chơi âm thanh lâu năm tại Hà Nội nhận xét.